Trưa Ca Dao

Tạ Quốc Bảo

Trưa đứng bóng. Nắng giữa những ngày mưa. Dưới tán lá xanh, nằm trên chiếc võng đung đưa, cứ ngỡ có bàn tay má dưới lưng, cứ ngỡ có lời ru của má văng vẳng bên tai.

“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi”…

Một buổi trưa không biết ở thời nào
Một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao
(Đi giữa đường thơm – Huy Cận)

Cứ như thế mà nhắm mắt lại, mà quay về tuổi thơ, mà lặng đi với những yêu thương, trìu mến từng có trong đời.

Chao ôi, giữa những ngày bươn bả áo cơm, giữa những ngày chạy hộc tốc như con thoi, giữa những ngày người tiếp xúc với người chỉ thuần công việc… chợt có một buổi trưa ca dao như thế, chợt có một khoảnh khắc thần tiên mộc mạc như thế thì còn gì hạnh phúc bằng.

Ngày ấy, má kể tôi nghe trên đời má lúc ấy thèm nhất là có được chiếc võng bện dây gai Long Hương để ru con, “vì không chiếu nào chịu nổi, hai chân cứ đạp lia đạp lịa, lại còn đái dầm, chiếu châm kim rồi rách bung hết”. Má phải cắt mảnh bao bố xin được buộc túm bốn đầu giăng ra hai cây cột nhà, đó là chiếc võng đầu tiên má à ơi đẩy đưa ru tôi suốt một thời đỏ hỏn.

Sau tôi cứng cáp hơn, má gửi cho hàng xóm tranh thủ xuống nhà cô tôi dưới xóm biển xin được miếng lưới nhợ, võng của tôi từ đó đã bền chắc hơn nhiều. Đến giờ thì tôi biết ngày xưa võng bện bằng thứ dây gai trồng trên đất cát Long Hương là thứ nhà nghèo không rờ tới nổi dù nó được làm ra từ những đôi tay của người nghèo.

Và tôi cũng hiểu không bà má nào phải đi học hát ru cả, tiếng hát của má tự bật ra ngọt ngào, da diết từ lòng thương, từ những trìu mến hết mực, mênh mông dành cho đứa con rứt ruột đẻ ra của mình.

Má dốc hết tình yêu qua lời hát ru, má gửi hết nỗi lòng qua lời hát ru nên không có một ca sĩ nào dù danh tiếng mức nào hát ru hay bằng lời hát ru của má, nó là những giọt mật thiêng liêng đã lắng, đã đọng trong tâm khảm những đứa con.

Tôi lớn lên không lúc nào nguôi nỗi nhớ võng, nhớ lời ru, nhớ những đong đưa trưa ca dao, nó dường như đã ăn sâu mọc rễ, trở thành hành trang cần thiết trong tâm hồn tôi, nó luôn nuôi tôi bằng dưỡng chất tình thương, thứ dưỡng chất tối hậu cần thiết cho một phận người lên bờ xuống ruộng, đầy cam go và cả cô đơn cô độc.

Bạn học ngồi chung bàn với tôi giã từ áo trắng học trò đi vào quân đội, nó đã không về. Chiếc võng dù màu lá là một trong những kỷ vật ít ỏi trong balô được gửi về cho má nó. Và má của bạn tôi cứ điên dại mắc chiếc võng ấy rồi ngồi đưa đẩy, ầu ơ.

Bà cứ hát ru bên chiếc võng không như vậy, lời hát mê đắm, dài dại, rưng rưng làm đau nhói lòng tôi trong những ngày gió lạnh và nỗi buồn đầy ắp.

Chiếc võng của người Việt giờ đã phát triển quá xa, không chỉ chất liệu, màu sắc, hình dáng, khung võng… Nó còn được tự động hóa. Gần đây, vợ chồng cháu tôi về nhà chơi mang theo đứa con nhỏ và chiếc túi da gọn ghẽ.

Vừa vào nhà, anh chồng đã lăng xăng lít xít mở túi, lắp ráp, vặn ốc, hóa ra là chiếc võng tự động có cả giàn khung cứng cáp được thiết kế để tháo lắp dễ dàng, có cả trục lắc tự động gắn một đầu, phía kia gắn bạc đạn êm ru, cắm điện vào là võng tự lắc đều lắc đều không kẽo cà kẽo kẹt…

Bà con đến thăm ai cũng trầm trồ một sản phẩm đẹp đẽ, giản tiện đem về từ thành phố. Nhưng khi cô vợ đặt đứa bé nằm xuống, nhấn nút vào chiếc máy nho nhỏ gắn ở đầu võng, lời hát ru của một ca sĩ lạ hoắc nào đó cất lên thì tôi bỗng thấy buồn.

Chợt nghĩ thay lời ru của má bằng “lời ru công nghiệp” ấy có là thiệt thòi cho những đứa con?

Thương lắm lời ru rút ruột mà hát của má! Thương lắm những dấu ấn trưa ca dao trong một thời thơ ấu! Và tôi cũng cảm ơn cuộc đời đã tỉ mỉ, cẩn trọng trang bị cho tôi những giá trị thiêng liêng cần có của đời người, cả những trưa ca dao chỉ còn đong đưa ạ ời trong ký ức.

Nguyễn Hiệp

Theo Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Viết một bình luận